Nhân Sâm

Nhân SâmTheo Y Học, nhân sâm đã được loài người tìm thấy và sử dụng cách đây hơn 4.000 năm. Qua mỗi thời kì con người có cách tìm kiếm, nuôi dưỡng và chế biến khác nhau. Nhân sâm, khoa học gọi là Radix Ginseng, là rễ củ của cây Panax Ginseng. Nhân sâm đứng đầu trong 4 vị thuốc quý của y học phương đông gồm Sâm, Nhung, Quế, Phụ.

Y học phương đông chia nhân sâm thành ba loại chính là Hồng Sâm, Bạch Sâm và Sâm Thái Cực. Hồng Sâm là những củ sâm to trên 37g (độ tuổi từ 4-6 năm) được rửa sạch để nguyên vỏ cho vào nồi nấu từ 1 đến 2 giờ (hoặc được hấp ở nhiệt độ trên 120 độ C).  Sau đó những củ sâm này sẽ được sấy khô từ 8 đến 10 giờ. Sau khi sơ chế tinh bột trong sâm sẽ trong lại như sừng, màu hồng nhạt, mùi rất thơm và vịt ngọt hơi đắng. Nhờ cách chế biến này mà hồng sâm giữ được các tinh chất của nhân sâm.  Bạch sâm là loại nhân sâm tươi không đủ tiêu chuẩn để chế biến thành hồng sâm. Loại sâm này sẽ được cắt bỏ rễ phụ, bỏ vỏ, phơi chỗ râm mát cho khô hoặc tẩm đường vài ngày rồi phơi hoặc sấy ở nhiệt độ không quá 60 độ C. Hàm lượng nước thấp dưới 14%, sản phẩm còn giữ lại hình dạng nguyên thủy. Sau khi sơ chế có màu trắng ngà, xốp, có mùi thơm, vị ngọt. Thái Cực Sâm là nhân sâm ngâm trong nước có nhiệt độ 80-90 độ C trong 10-20 phút rồi sấy khô.

Nhân Sâm trồng ở đâu ?

Nơi trồng nhân sâm có chất lượng tốt phải là vùng có thổ nhưỡng, khí hậu đặc biệt. Quy trình trồng, chăm sóc và thu hoạch cũng rất nghiêm ngặt. Huyện Phủ Tùng, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc được mệnh danh là xứ sở của nhân sâm. Đầu tháng 9 hàng năm là thời điểm bắt đầu vào mùa thu hoạch nhân sâm, vì thế, đây cũng là mùa mua bán nhân sâm nhộn nhịp nhất. Nhờ ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại cùng bề dầy kinh nghiệm trong trồng trọt nên Phủ Tùng đã trở thành nơi chuyên sản xuất nhân sâm. Nhân sâm cũng được  trồng nhiều nhất ở Triều Tiên, Hồng Công, Đài Loan, Bắc Mỹ, Canada…

Tác Dụng Của Hồng Sâm

Hồng sâm có thành phần chủ yếu là các saponin. Có hai loại saponin chính: saponin có cấu trúc Damaran (với hai đại diện là nhóm protopanaxadiol và nhóm protopanaxadiol) và saponin có cấu trúc olean. Vì thế, Hồng Sâm có công dụng hỗ trợ điều trị các loại ung thư – thúc đẩy sự tái tạo tuần hoàn máu – tăng cường chức năng hoạt động của cơ quan hô hấp, tiêu hóa, giảm stress, phòng bệnh tiểu đường, tăng miễn dịch, tăng cảm giác thèm ăn, giúp nâng cao thể trạng… Mặt khác, nó còn giúp cải thiện tình trạng suy kiệt do tuổi già, suy nhược cơ thể.

Bên cạnh đó, trong đó tinh chất hồng sâm RH2 được bào chế từ công nghệ phân hủy emzyme hiện đại được coi là quý nhất trong điều trị một số bệnh hiểm nghèo: giúp ức chế khối u, bảo vệ tế bào gan, tăng cường hoạt động não bộ trong những di chứng tai biến mạch máu não, tăng trí nhớ và sự minh mẫn, điều hòa hoạt động thức ngủ, chống stress, tăng cường hệ thống miễn dịch qua trung gian tế bào- do đó có hiệu quả ức chế vi rút HIV (AIDS).

Lưu ý khi  sử dụng nhân sâm

Nhân sâm luôn được biết với những tác dụng tuyệt vời trong việc cải thiện sức khoẻ. Nó đứng đầu trong 4 vị thuốc quý của y học phương đông gồm Sâm, Nhung, Quế, Phụ. Tuy nhiên không phải ai cũng có thể dùng nhân sâm. Khi nói về nhân sâm đã có một lời khuyên mang tính kinh điển: “Phúc thống phục nhân sâm tắc tử” (đau bụng uống nhân sâm sẽ chết). Bênh cạnh đó không phải tất cả bộ phận trên củ sâm đều dùng được. Núm rễ của củ sâm (còn gọi là lô sâm). Để giữ được các hoạt chất khi chế biến và để tạo dáng cho nhân sâm (giống như cái đầu người),  người ta đã giữ nó lại. Lô sâm, không có tác dụng bổ mà còn gây ra cảm giác buồn nôn. Do đó cần cắt bỏ đi, trước khi sử dụng.

Bên cạnh đó, Khi bị cảm mạo, bất kể là do cảm nhiễm virus hay nhiễm vi khuẩn gây nên, đều có biểu trưng ngoại cảm thì không nên dùng Nhân Sâm.

Viêm gan truyền nhiễm cấp tính, viêm túi mật cấp tính, bệnh sỏi mật, xuất hiện đau sườn, đau bụng, hoàng đản, phát sốt, thì đó đều là gan mật bị thấp nhiệt, khí không lưu thông thanh thoát được. Nếu uống nhân sâm sẽ lại được trợ thấp sinh nhiệt, làm cho khí trệ uất kết, làm cho chứng bệnh nặng thêm.

Đau dạ dày là chứng viêm loét ở bộ phận dạ dày, dịch vị ra quá nhiều, dạ dày bị co giật gây nên, Đông y gọi là do khí trệ vị hoá mà sinh ra đau, huyết nhiệt chạy lung tung mà sinh ra xuất huyết. Chữa trị cần phải lý khí hoà vị, lương huyết chỉ huyết. Nhân sâm bổ khí, làm cho khí càng thịnh lên, huyết càng hưng vượng, như vậy rất khó làm giảm và làm hết đau.

Khi bệnh cảm nhiễm giãn phế quản, bị lao… thường có ho ra máu, trong đờm có máu, bị ho, có người sốt nhẹ, xuất huyết, biện chứng trong Đông y là âm hư hoả vượng, phế âm suy nhược. Trị liệu cần phải tư âm giáng hoả, lương huyết chỉ huyết. Vậy mà nhân sâm có thể làm thương âm động hoả, càng làm hiện tượng nôn ra máu trở nên nặng thêm.

Người có bệnh tự thân miễn dịch như ban đỏ, mụn nhọt, viêm khớp loại phong thấp, bệnh da cứng là những người bị âm hư hoà vượng, bị ức chế miễn dịch của tế bào và miễn dịch của các chất lỏng trong cơ thể lên cao.

Phụ nữ ở thời kỳ mang thai uống nhân sâm có thể dẫn tới tình trạng khó sinh. Trẻ nhỏ dưới 14 tuổi cơ thể thuần dương, nhân sâm có thể thúc đẩy sự phát dục của tuyến sinh dục phát triển, đó là điều rất nên tránh đối với trẻ.

Sản Phầm Từ Sâm.

 

Both comments and pings are currently closed.

Comments are closed.

Powered by WordPress | Designed by: WordPress Themes | Thanks to Free Premium WordPress Themes Blog, Download Free WordPress Themes and Best Free WordPress Themes